Diệt mối giá rẻ

Diệt chuột giá rẻ

Mối liên lạc với nhau bằng cách nào?

Tổ mối bao gồm: Mối vua, mối chúa, mối lính, mối thợ. Trong đó mối vua mối chúa làm nhiệm vụ sinh sản, mối lính bảo vệ, mối thợ làm nhiệm vụ tìm thức ăn để nuôi cả quần thể mối và vận chuyển chứng. Vậy mối liên lạc với nhau bằng cách nào? 

Mối liên lạc với nhau bằng cách nào?
Mối liên lạc với nhau bằng cách nào?
Thông tin liên lạc trong tổ mối

Mối liên lạc với nhau cơ bản thông qua hóa chất gọi là Feremon, mỗi đàn mối có một mùi đặc trưng, khi có kẻ lạ xâm nhập thì chúng phát hiện ra ngay, thông báo cho các mối lính qua tín hiệu Feremon để tấn công kẻ lạ mặt. Nếu mối thợ tìm thấy một nguồn thức ăn mới, nó sẽ kéo theo các con khác đến chỗ đó bằng việc rải một đường hóa chất (Feremon) và mối thợ có thể va đầu vào thành ống đường mui tạo ra rung động, các con mối khác nhận được thông báo, báo cho toàn đàn mối để bảo vệ.
Qua trao đổi thức ăn cũng nâng cao việc nhận dạng các cá thể trong đàn mối.

Xem thêm:  Phân công lao động trong tổ mối

Xem ngay…

Đặc tính sinh học của các loài mối

Mối là côn trùng xã hội, chúng hoạt động ẩn náu theo đàn. Trên thế giới có hơn 2700 loài mối, bao gồm: Mối gỗ ẩm, mối gỗ khô và mối đất. Đặc tính sinh học của của các loài mối như sau:
Đặc tính sinh học của các loài mối
Dac tinh sinh hoc cua cac loai moi

I - ĐẶC TÍNH SINH HỌC MỐI GỖ ẨM

Hình thái
5-10mm chiều dài, Màu nâu
Vòng đời
Mối chúa có thể đẻ hàng ngàn trứng một ngày. Trong phạm vi một tổ mối chỉ có một mối chúa và một mối vua.
Đặc tính sinh học
Tổ mối có thể chứa tới vài triệu con mối. Mối gỗ ẩm ưa thích điều kiện ẩm ướt. Ban đầu mối ăn gỗ mục nát xung quanh tổ. Sau khi đó chúng có thể gây hại tới các cấu trúc gỗ trong công trình. Đây là loài gặp phổ biến và gây hại nghiêm trọng nhất tại Việt Nam.

II - ĐẶC TÍNH SINH HỌC MỐI GỖ KHÔ

Hình thái
Ấu trùng - 1mm dài, mờ trắng. Mối lính - 5mm ngực và bụng nhạt màu, đầu tối màu hơn. Mối trưởng thành – chiều dài cá thể lên đến 7mm, hoặc 11mm bao gồm cả cánh.
Vòng đời
Mối trưởng thành (mối cánh) phân đàn từ các tổ mối. Sau một chuyến bay ngắn và tìm được môi trường thuận lợi chúng xâm nhập và trút bỏ đôi cánh.
Khi con cái thu hút được một con đực và tìm kiếm được một khu vực phù hợp, ví dụ như một vết nứt trong một tấm gỗ khô, và bắt đầu một tổ mối mới.
Giao phối diễn ra trong suốt cuộc đời của mối chỉ tại khu vực này.
Sự phát triển tổ mối là chậm. Và sau 1 năm, mối vua và mối chúa chỉ có thể sinh sản 3 hoặc 4 ấu trùng. Các ấu trùng phát triển thành mối thợ, mối lính hoặc mối cánh.
Đặc tính sinh học
Chúng xâm hại các kết cấu gỗ khô.Chúng mở rộng tổ của chúng bằng cách ăn qua gỗ theo tất cả các hướng; cuối cùng để lại chỉ là một lớp vỏ gỗ đã hoàn toàn bị phá hoại bên trong. Mối gỗ khô thường bị phát hiện khi chúng ta phát hiện ra những hạt mùn gỗ mà chúng thải ra trong quá trình phá hoại.

III - ĐẶC TÍNH SINH HỌC MỐI ĐẤT

Hình thái
5-10mm chiều dài. Màu trắng, kích thước cá thể lớn, đầu màu nâu
Vòng đời
Mối chúa có thể đẻ hàng ngàn trứng trong một ngày. Mối vua vẫn chỉ hơi lớn hơn một cá thể mối thông thường, mối vua giao phối với mối chúa để duy trì số lượng cá thể mối trong tổ.
Đặc tính sinh học
Tổ được xây dựng trong đất. Loài mối này cũng rất phụ thuộc vào độ ẩm của đất. Trong quá trình tìm kiếm thức ăn, mối tạo ra những đường ống bằng đất để tránh bị khô khi tiếp xúc với không khí. Mối đất thường hoạt động theo cách riêng của chúng trên mặt đất để tiếp cận gỗ hoặc cellulose.

Xem thêm: 

Món ăn khoái khẩu của mối
Phân công lao động trong tổ mối
Đặc điểm cấu trúc các loại tổ mối
Xem ngay…

Thời điểm mối cánh bay phân đàn

Thời điểm mối cánh bay phân đàn tùy thuộc vào chủng loại mối và vùng phân bố. Theo kết quả nghiên cứu ở nước ta mối cánh bay phân đàn từ tháng 4 đến tháng 8 nhưng mạnh nhất vào tháng 4,5 và 6.

Thời điểm mối cánh bay phân đàn

Mối cánh sau vài lần lột xác cuối cùng thì thành mối cánh trưởng thành. Thời điểm mối cánh bay phân đàn từ sau mùa xuân, trời ấm áp vào buổi trưa hoặc chiều. Khả năng bay của mối cánh chỉ từ vài mét đến vài chục mét tùy theo sức gió, hướng gió. Sau khi rơi xuống đất thì con đực đi tìm con cái, sau một lúc tiếp xúc thì 4 cánh rụng đi.

Trong quá trình bay và rơi xuống đất phần lớn mối cánh bị diệt vong, chỉ một vài đôi mối cánh gặp điều kiện thuận lợi dùng răng đào tổ làm nơi trú ngụ. Sau khi giao phối một tuần thì đẻ trứng, lúc đầu số trứng rất ít về sau tùy theo sự trưởng thành mà tốc độ đẻ trứng tăng dần.

Sau khoảng 1 tháng thì trứng nở thành mối non, mối non có màng trắng và rất mềm, hình dạng giống mối thợ trưởng thành. Từ mối non sau 1 tuổi qua một vài lần lột xác thành mối lính. Mối non tương lai trở thành mối cánh thì giữa ngực trước và ngực sau sinh ra các mầm cánh, thời gian them tuổi thì cánh dài thêm. Mối cánh trưởng thành thường to hơn mối lính và mối thợ trưởng thành. Mối non trở thành mối thợ ít có biểu hiện rõ ràng.

Sự phát triển của đàn mối rất chậm trong nhiều năm, trứng đẻ không liên tục. Khi mối chúa trưởng thành nó đẻ nhiều trứng hơn và bụng trở nên to hơn. Khi khả năng mối chúa đẻ tối đa có thể đúng bằng số lượng các con mối già chết đi và số lượng mối phân đàn bay đi.

Đàn mối càng lớn thì các con mối được sinh sản hàng năm tăng lên. Thời gian ít nhất 3 năm đến 4 năm hay dài hơn 8 đến 10 năm, từ các con mối ban đầu đủ lớn đến mức sẽ có một số bay bớt đi (bay phân đàn).

Để tư vấn về cách diệt mối cánh và cách diệt mối theo phương pháp lây truyền xin vui lòng liên hệ: DIỆT MỐI 24H - ĐT: 0986 440 222

Xem ngay…

Tìm hiểu loài gián Đức

Gián Đức có chiều dài từ 13 cm (5,1 in) đến 16 cm (6,3 in) và có trường hợp lớn hơn. Nó có thể có màu nâu vàng nhạt đến gần như đen, và có hai sọc song song tối chạy từ đầu đến chân cánh. Dù có cánh, nó không thể bay. Loài này được tìm thấy ở các khu định cư của con người. Loài này thường sinh sống ở các nhà hàng, khu vực chế biến thực phẩm, khách sạn và bệnh xá. 

Dịch vụ diệt gián Đức, diệt côn trùng hiệu quả, chuyên nghiệp. Liên hệ: 0986 440 222

Tìm hiểu loài gián Đức
Gián Đức
Con cái mang bọc trứng nhô ra ở phần đuôi bụng cho đến khi trứng nở. Con cái mang những bọc trứng thì được gọi là gián mang thai. Bọc trứng mỏng, dài khoảng 0,8mm và có màu nâu vàng. Con có thể phá vỡ bọc trứng khi bọc trứng vẫn còn bám ở bụng con mẹ. Hoặc con mẹ có thể đặt bọc trứng ở một nơi an toàn để con con có thể tìm được thức ăn và nơi ẩn náu khi chúng nở ra. Gián Đức là loài gián gây hại duy nhất mang theo bọc trứng trong một thời gian lâu đến như vậy. Những bọc trứng mà bị dời khỏi mẹ vài ngày trước khi nở, thì hầu như là không nở được nếu như chúng không gặp được các điều kiện môi trường  nóng ẩm cao. Điều này cũng  xảy ra đối với  những con mang thai có thể  bị giết bởi hóa chất trong vòng vài giờ, tới một hoặc vài ngày tính từ thời điểm mà lẽ ra bọc trứng đã phải nở. Những phôi bên trong bọc trứng cần phải được tiếp một lượng  nước thích hợp hầu như từ con cái, để tránh chết khô. Hơn nữa khi có nhiều độ ẩm thì việc này có thể không xảy ra, và bọc trứng có thể sống sót vài giờ hoặc lâu hơn sau khi bị rơi hay con mẹ chết trước khi chúng nở. Con cái trưởng thành thường đẻ từ 4 đến 8 bọc trứng trong đời. Mỗi bọc trứng chứa từ 30 đến 48 trứng. Và thường mất 28 ngày để nở từ khi bọc trứng được sinh ra. Thường trong vòng một vài tuần thì bọc trứng kế tiếp được hình thành.
Gián Đức là loại khá năng động, di chuyển liên tục trong các toà nhà. Chúng di chuyển từ vị trí này tới vị trí khác và có thể xuyên qua những kẽ hở rất nhỏ. Chúng có thể được phát tán từ nơi này đến nơi khác thông qua các đồ vật mà chúng ta di chuyển. Các nhà kiểm soát côn trùng chuyên nghiệp phải kiểm tra thật kỹ các khu vực mà gián có thể sống, và phải cố xác định xem bằng cách nào mà gián có thể xâm nhập được vào nhà. Việc kiểm soát gián Đức ở những toà nhà mà gián thường xuyên được chuyển vào nhà bằng cách đi theo con người, thực phẩm hay những đường khác là không thể có hiệu quả trong một lần diệt. Hơn nữa, việc áp dụng hóa chất có thể làm cho gián phân tán ra khắp tòa nhà. Nếu như tất cả những con phân tán này không được phát hiện và xử lý thì việc nhiễm lại ở những khu vực đã được xử lý sẽ lại xảy ra.

Xem ngay…

Vòng đời của ruồi

Loài ruồi nhà thường gặp có tên khoa học là Musca domestica, sống rất gần gũi với loài người trên toàn thế giới. Chúng thường được tìm thấy ở những khu dân cư hoặc súc vật sinh sống, nơi có nhiều thực phẩm và chất thải. Ruồi nhà ăn thực phẩm của người và chất thải vì thế chúng có thể mang và phát tán nhiều loại mầm bệnh khác nhau như ỉa chảy, bệnh nhiễm trùng da và mắt.

Vòng đời của ruồi
Vòng đời của ruồi

Vòng đời của ruồi:

Vòng đời của ruồi trải qua 4 giai đọan: trứng, dòi, nhộng và ruồi trưởng thành. Tùy thuộc vào nhiệt độ môi trường mà từ trứng nở thành ruồi trưởng thành thường mất từ 3 – 5 ngày. Ruồi trưởng thành có đời sống khỏang 1-2 tháng, ở điều kiện thích hợp có thể sống đến 3 tháng.

Ruồi nhà có sức sinh sản khá nhanh và mạnh, ruồi cái có thể đẻ đến 150 trứng trong vòng 5-6 ngày. Nên quần thể ruồi nhà có thể bùng phát số lượng trong vòng vài tuần.

Trứng ruồi thường được đẻ thành khối trên chất hữu cơ như phân bón, rác rưởi. Trứng sau khi đẻ sẽ nở trong vòng vài giờ. Dòi non chui lúc nhúc trong phân và rác rưởi. Dòi ruồi dài và mảnh, màu trắng, không có chân, phát triển rất nhanh, lột xác 3 lần rồi thành nhộng. Giai đọan nhộng thường kéo dài từ 2-10 ngày, đến ngày cuối, ruồi con đẩy mở đỉnh của bao nang nhộng, xé bao nang và chui ra ngòai. Ngay sau khi nở, ruồi giang cánh để khô và cứng cơ thể. Chỉ vài ngày sau khi nở, ruồi có thể sinh sản.

Một số tập tính của ruồi:

Ruồi trưởng thành có màu xám đen, dài 6-9 mm và có 4 sọc đen kéo dài trên tấm lưng của các đốt ngực. Kiểu miệng liếm hút. Cả ruồi đực và cái đều ăn tất cả thức ăn, rác rưởi, chất thải của người và cả phân động vật. Nước là chất thường ngày không thể thiếu của ruồi, ruồi sẽ chết nếu sau 48 giờ không hút nước. Một ngày ruồi cần ăn 2-3 lần.

Ruồi họat động chủ yếu vào ban ngày khi chúng ăn và giao phối, về đêm bình thường ruồi đậu yên. Ban ngày, khi không tìm thức ăn, ruồi thường trú đậu ở sàn nhà, tường, trần nhà, cũng như ngòai bờ rào, hần nhà xí, thùng rác, dây phơi quần áo, thảm cây thấp … Ruồi thường tập trung ở các điểm tìm kiếm thức ăn, nơi giao phối, nơi đẻ trứng và nơi trú đậu. Ban đêm ruồi ưa đậu ở trần nhà và những cấu trúc treo cao khác, nhìn chung gần với nơi kiếm ăn, nơi đẻ và tránh được gió.
Ảnh hưởng của ruồi đối với sức khỏe cộng đồng: 

Khi ruồi nhiều quá nó sẽ gây rất khó chịu cho con người làm việc và nghỉ ngơi. Ruồi với chất bẩn mang trên thân, chân, vòi … làm bẩn nhà cửa, đồ đạc. Sự có mặt của chúng là dấu hiệu của điều kiện mất vệ sinh.
Ruồi là loài côn trùng mang mầm bệnh khi chúng kiếm ăn. Mầm bệnh có thể dính bề mặt ngòai cơ thể ruồi và có thể được nuốt vào trong dạ dày với thức ăn. Mầm bệnh được truyền đến người khi ruồi tiếp xúc với người và thức ăn Đa số mầm bệnh do ruồi truyền đều nhiễm trực tiếp qua đường thức ăn, nước uống …

Những bệnh do ruồi truyền như kiết lỵ, ỉa chảy, thương hàn, tả và một số bệnh giun sán, nhiễm trùng mắt và một số bệnh ngoài da như mụn cóc, nấm, phong.

Diệt côn trùng cho các công trình. Liên hệ: 0986 440 222

Xem ngay…

Sự giống nhau và khác nhau giữa mối cánh và kiến cánh

Vào thời điểm từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm chúng ta thấy có nhiều mối cánh và kiến cánh từ bên ngoài bay vào nhà hoặc từ trong nhà bay ra. Vậy cách phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa mối cánh và kiến cánh là như thế nào? 
Hình ảnh mối cánh và kiến cánh
Sự giống nhau và khác nhau giữa mối cánh và kiến cánh
Mối cánh
Sự giống nhau và khác nhau giữa mối cánh và kiến cánh
Kiến cánh
Mối cánh và kiến cánh
Nhận biết sự giống và khác nhau giữa mối cánh và kiến cánh

Mối cánh gần giống với kiến cánh, nhưng chúng có sự khác biệt rõ ràng về ngoại hình. Kiến có eo thắt, trong khi mối có một vòng eo không rõ ràng, thẳng từ đầu tới cuối thân. Mối có bốn cánh kích thước bằng nhau. Kiến thì có râu uốn cong một góc 90 độ, trong khi râu của mối thẳng.
Khi thấy trong nhà có mối cánh xuất hiện từ các khuôn, cánh cửa bay ra thì chắc chắn nhà bạn đã bị mối xâm nhập. Để diệt mối tận gốc theo phương pháp sinh học, an toàn không độc hại, Quý khách hàng liên hệ theo số điện thoại sau: 
24H PEST CONTROL 
- Tại Hà Nội     : 024 668 03 013    -    Hotline: 0986 440 222
- Tại Thái Bình: 0227 3 840 184     -    Hotline: 0986 440 222


Xem ngay…

Số lượng các cá thể mối trong một tổ mối



Thành phần trong một tổ mối bao gồm: Mối vua mối chúa, mối lính, mối thợ và mối cánh. Mỗi loại đều đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau và có số lượng cũng khác nhau:

Số lượng của các cá thể mối trong một tổ mối
Số lượng các cá thể mối trong một tổ mối

Nhiệm vụ của từng cá thể mối trong tổ mối: 

  • Mối vua chúa làm nhiệm vụ sinh sản ra các cá thể khác trong đàn, Mỗi  đàn  có  1 hoặc 1 vài  mối  vua, 1 vài  mối  chúa (trong tiếng Anh là king và queen – vua và hoàng hậu). Các cá thể này có hệ sinh sản rất phát triển.
  • Mối thợ chiếm khoảng 85% số cá thể trong đàn, chuyên làm nhiệm vụ kiếm ăn, chế biến thức ăn, xây dựng tổ, chăm sóc con non và các cá thể khác trong đàn (trong tiếng Anh là worker – công nhân). Các cá thể này có hệ sinh sản tiêu giảm.
  • Mối lính chiếm khoảng 10% số cá thể trong đàn, chuyên làm nhiệm vụ đánh đuổi kẻ thù bảo vệ đàn (trong tiếng Anh là soldier – lính). Các cá thể này có hệ sinh sản tiêu giảm
  • Mối cánh chiếm khoảng 5% số cá thể trong đàn, chuyên làm nhiệm vụ xây dựng các tổ mối mới (trong tiếng Anh là imago– mối trưởng thành). Các cá thể này có hệ sinh sản phát triển.

Xem ngay…

Loài mối nào nguy hại nhất?

Trên thế giới có trên 2700 loài mối, ở Việt Nam hiện đã phát hiện 106 loài mối. Mỗi loài đều có đặc điểm khác nhau. Chúng khác nhau về cấu trúc tổ (có loài làm tổ nổi trên mặt đất, có loài làm tổ chìm, có loài làm tổ trên cây), đặc điểm dinh dưỡng (có loài chuyên ăn gỗ khô, có loài chuyên ăn gỗ ẩm, có loài chuyên ăn mùn), có loài đắp đường mui, có loài không đắp đường mui khi đi kiếm ăn, có loài ăn bên ngoài có loài chuyên ăn bên trong gỗ….

Loài mối nào nguy hại nhất
Loài mối nào nguy hại nhất
Loài mối nào nguy hại nhất?

Mỗi công trình nhà cửa, kho tàng; đê đập và cây cối đều có thể bị các loài mối gây hại nếu không có các biện pháp phòng chống mối hữu hiệu. Tuy nhiên mức độ gây hại của các loài mối cũng khác nhau. Riêng với nhà cửa, kho tàng ở nước ta thì mức độ gây hại nghiêm trọng nhất thuộc về các loài mối thuộc giống Coptotermes (còn gọi là mối gỗ ẩm), tiếp theo là các loài thuộc nhóm mối đất, tập trung trong 2 giống Odontotermes và Macrotermes, cuối cùng là nhóm mối gỗ khô, thuộc giống Cryptotermes.

Các loài mối Coptotermes làm tổ ngầm trong nền móng công trình, trong cây, hoặc kết cấu khác của công trình, đường mui chủ yếu là đơn lẻ, chúng hoạt động ở nhiều tầng cao thấp khác nhau của công trình.

Các loài mối đất chỉ làm tổ trong đất, trong tổ luôn có vườn nấm Termitomyces, chúng kiếm ăn chủ yếu ở tầng 1, đường mui thường phủ kín thành lớp trên bề mặt cấu kiện gỗ.

Các loài mối gỗ khô chỉ làm tổ trong các cấu kiện gó tỗ, số lượng cá thể của một tổ thường chỉ có vài trăm con. Phân thải ra có dạng hạt cải.

Mối gây hại gì?

- Phá huỷ các đồ vật và các cấu kiện gỗ trong công trình.
- Phá hủy các giấy tờ, tài liệu quan trọng.
- Phá huỷ hệ thống dây cáp điện ngầm và có thể gây chập điện.
- Gây sụt lún cho nền móng công trình.
- Gây gãy, đổ, chết cây trồng.
Dịch vụ Diệt mối giá rẻ chuyên nghiệp, hiệu quả, bảo hành dài hạn. Mọi chi tiết vui lòng liên hệ số điện thoại: 0986 440 222


Xem ngay…

Đặc điểm của loài gián

Gián thuộc loài côn trùng phổ biến nhất. Căn cứ vào những hóa thạch để lại thì gián được biết đến là đã có mặt trên trái đất trên 300 triệu năm. Kích thước của chúng rất đa dạng, một số loài có thể dài tới vài cm. Một số nhà sinh vật học coi loài côn trùng này là một trong những nhóm côn trùng phát triển nhất trên hành tinh. Gián là một trong những nhóm côn trùng dễ thích nghi và phát triển nhất. Chúng có thể sống sót dưới những điều kiện môi trường thay đổi qua hàng triệu năm. Có xấp xỉ 3500 loài gián trên khắp thế giới- khoảng 55 loài được tìm thấy ở nước Mỹ.
Thể tích: 1000 ml
Chuyên cung cấp dịch vụ diệt mối, diệt côn trùng, kiểm soát chuột chuyên nghiệp, an toàn, hiệu quả.  Liên hệ dịch vụ: 0986.440.222
Những loài phổ biến nhất là gián Đức, gián Mỹ, gián Phương Đông, gián Vành Nâu, gián Xám,... Đối với 5 loài gián này chiếm tới 95% cho việc kiểm soát chúng ở bên trong và xung quanh các tòa nhà. Ở một số vùng thì loài này có thể nghiêm trọng hơn loài kia, và ngược lại. Có loài thì có thể phá hoại cho các khu dân cư, hay có loài thì phá hoại cho các tòa nhà khác. Nhưng nhìn chung chúng thường được tìm thấy ở một số nơi cụ thể, kể cả những nơi không bình thường.

Đặc điểm của loài gián

GIÁN LÀ LOÀI CÔN TRÙNG GÂY BỆNH:


Gián tiết ra chất mùi hôi từ nhiều bộ phận trên cơ thể chúng mà có thể gây ảnh hưởng đến mùi vị của nhiều loại thực phẩm. Khi số lượng gián nhiều thì mùi hôi này có thể tạo ra một mùi đặc trưng trên toàn bộ khu vực nhiễm gián. Các tế bào gây bệnh như là các vi khuẩn cũng được tìm thấy trên cơ thể của gián. Qua thí nghiệm cho thấy một số bệnh về đường tiêu hoá là do lây lan, nhưng còn những bệnh đường ruột khác thì nguyên nhân chính là do gián gây ra. Các bệnh này bao gồm ngộ độc thức ăn, kiết lị, tiêu chảy và các loại bệnh khác. Các tế bào gây ra những căn bệnh này được mang trên chân và cơ thể của gián và được bám vào thức ăn, các dụng cụ đựng thức ăn khi chúng đi kiếm mồi. Chúng còn mang theo rất nhiều các sinh vật đơn bào và các vi sinh vật bên trong cơ thể chúng, một số loại vi sinh vật này có thể liên quan đến việc reo rắc các mầm bệnh. Phân gián và xác gián cũng chứa một lượng chất dị ứng, mà chất này gây dị ứng da, chảy nước mắt, hắt hơi đối với rất nhiều ngưới. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là gián thường không gây ra những bệnh nghiêm trọng. 

ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA LOÀI GIÁN:

Hầu hết các loài gián có nguồn gốc nhiệt đới và bán nhiệt đới, nhìn chung chúng sống ở các khu vực bên ngoài. Chúng thường hoạt động về đêm, trong khoảng thời gian này chúng đi kiếm thức ăn, nước uống và kết bạn. Ta cũng có thể thấy chúng vào ban ngày, cụ thể là khi số lượng chúng nhiều và khi trong chúng có sự căng thẳng (ví dụ như thiếu thức ăn hay nước uống). Nhiều loại thích môi trường ẩm ướt, nhiều loại lại thích những nơi có nhiệt độ cao. Một số loài gián nhiệt đới sống bằng cách ăn thực vật. Tuy nhiên những loài gián sống trong nhà lại ăn các xác thối rữa và ăn rất nhiều loại thức ăn. Chúng đặc biệt thích ăn các chất tinh bột, bánh kẹo, đường sữa, thịt, nhưng chúng còn ăn rất nhiều chất khác như bia, bơ, các sản phẩm bánh mì, hồ dán sách, keo, tóc, lớp da khô tróc ra, xác động vật và các chất thực vật.

Gián thường chọn những nơi khe kẽ kín để sống. Những nơi này sẽ cung cấp môi trường ấm, ẩm. Một số loài như gián Mỹ, gián trung đông thường tập trung từng nhóm đông đúc ở những bức tường rỗng được bảo vệ hoặc ở những khu vực bên ngoài. Mặc dù chúng thường đựơc tìm thấy từng nhóm vào ban ngày khi chúng ấn náu hay nghỉ ngơi, và có thể được tìm thấy từng nhóm đi kiếm ăn vào ban đêm, nhưng chúng không phải thuộc loài côn trùng sống theo bầy đàn như kiến và ong. Nhìn chung gián thường đi kiếm ăn riêng lẻ và mặt khác chúng sống hầu như độc lập, hay không có tính bầy đàn.

Hình dạng của các loài gián nhìn chung là giống nhau. Chúng có thân hình bầu dục và dẹt, điều này tạo cho chúng có khả năng thu nhỏ và chui vô tất cả các loại khe, kẽ. Lớp vỏ bọc nhô ra quá phần đầu. Chúng có phần miệng nhai và phần miệng này được hướng xuống một chút về phía sau cơ thể. Với những cái chân dài và có nhiều gai, chúng có thể chạy rất nhanh trên hầu hết các bề mặt. Với những bàn chân đặc biệt, giúp chúng có khả năng leo trèo trên những cửa kiếng hay trên trần nhà một cách dễ dàng.


Bên cạnh khả năng đi lại bên trong, bên ngoài, và thực tế là có một số loài có khả năng bay rất tốt, gián còn nổi tiếng trong việc di chuyển đến những khu vực mới qua việc đi nhờ. Bởi vì chúng thích ẩn náu trong những khe, kẽ vào ban ngày. Chúng thường đi theo con người hay hàng hóa vận chuyển quanh thành phố hay trong cả nước. Kiểm tra kỹ các đồ đạc, quần áo, hay các hàng hóa khác chuyển vô nhà, hay một số trang thiết bị có thể có gián ẩn náu. Bằng việc kiểm tra kỹ (trong một số trường hợp) các chuyên gia kiểm soát côn trùng và các nhà nghiên cứu đã đưa ra những con số kinh ngạc về gián Đức xâm nhập vào trong các khu vực như bệnh viện, nhà hàng, khách sạn, sở thú qua những đường này mỗi ngày.

Xem ngay…

Tìm hiểu về loài kiến

Kiến là loài côn trùng xã hội thuộc họ Formicidae có họ hàng với loài ong, thuộc bộ Hymenoptera. Trên thế giới có khoảng 12.000 loài kiến, đa số các loài kiến phân bổ ở vùng nhiệt đới. Chúng được biết là loài côn trùng có tính tổ chức cao trong tập đoàn kiến, có những tổ kiến có đến hàng triệu cá thể.
Các tổ kiến thường chiếm 1 khu vực rộng lớn, tổ kiến giống như một siêu tổ chức vì chúng được vận hành như một hệ thống nhất. Kiến có thể thấy hầu hết mọi nơi trên Trái Đất, những nới không có sự tồn tại của các loài bản địa là Nam Cực, Greenland, Iceland, một số khu vực của Polynesia, quần đảo Hawaii, và một số đảo hẻo lánh hay các đảo không thuận lợi cho sự sống.

Tìm hiểu về loài kiến
Tìm hiểu về loài kiến

Tiến hóa:

Vế sinh hoc giống loài chỉ ra rằng kiến tiến hóa từ Vespoids ở giữa kỹ phấn trắng khoảng 120-170 triệu năm trước đây sau khi các cây hạt kín xuất hiện cách đây khoảng 100 triệu năm, kiến đã phân chia thành nhiều loài và thống trị thế giới sinh vật khoảng 60 triệu năm trước đây. Nhiều hóa thạch từ kỹ phấn trắng là lớp trung gian và ong, đã cung cấp thêm bằng chứng về nguồn gôc của loài ong.

Hình thái học:

Kiến được phân biệt với các côn trùng khác bởi đôi râu gấp khúc và cơ thể chia thành 2 phần rõ rệt nối với nhau bởi phần eo rất hẹp. Phần eo được tảo bởi 1 hay 2 đốt, cơ thể kiến giống như các loài côn trùng khác bao gồm một bộ xương ngoài bao bộc toàn bộ cơ thể và một bộ phần kết nối các cơ, khác với cấu tạo bộ xương bên trong của người và những động vật có xương sống khác. Côn trùng không có phổi, oxy và khí CO2 được trao đổi thông qua các lỗ tí hon ở bộ xương ngoài, còn gọi là lỗ thở.
Cơ thể kiến được chia làm 3 phần : Đầu, ngực và bụng
-         Phần đầu có nhiều cơ quan cảm giác, giống như hầu hết các lòai côn trùng, kiến có đôi mắt kép, gồm nhiều thấu kính nhỏ kết hợp lại với nhau giúp chúng phát hiện sự chuyển động rất tốt. Kiến cũng có 3 mắt đơn ở đỉnh đầu giúp chúng cảm nhận cường độ của ánh sáng. Râu của kiến là cơ quan đặc biệt giúp chúng giao tiếp, phát hiện hóa chất, mùi được tiết ra từ các cá thể kiến khác. Râu cũng là cơ quan cảm nhận giúp chúng nhận biết được sự vật xung quanh. Đầu còn có đôi hàm khỏe, hàm dưới dùng để mang thức ăn, xây tổ và bảo vệ tổ kiến.
-         Phần ngực có 3 đôi chân, ở cuối mỗi chân có hình dạng như các móc giúp kiến có thể leo trèo dễ dàng. Kiến chúa và kiến đực còn có cánh.
-         Phần bụng là nơi có nhiều cơ quan quan trọng, bao gồm cơ quan sinh sản. Hầu hết các loài kiến có ngòi dùng để chích hóa chất làm tê liệt con mồi hay để bảo vệ tổ.

Sự phát triển:

Vòng đời của kiến bắt đầu từ trứng, trứng được thụ tinh sẽ nở thành kiến cái, nếu không sẽ thành kiến đực. Vòng đời của kiến thuộc dạng biến thái hoàn toàn: trứng- ấu trùng- nhộng- con trưởng thành. Giai đoạn ấu trùng phụ thuộc hoàn toàn vào sự giúp đỡ của các cá thể trong tổ, vì chúng không có chân. Sự khác biệt giữa kiến chúa và kiến thợ (đều là kiến cái) và các đẳng cấp kiến thợ khác nhau phụ thuộc vào sự nuôi nấng, chăm sóc giai đoạn ấu trùng. Thức ăn được cung cấp cho ấu trùng qua quá trình trao đổi trao đổi thức ăn, kiến thợ sẽ ợ thức ăn để nuôi ấu trùng. Đây cũng là cách trao đổi thức ăn giữa các con trưởng thành trong tổ kiến. Ấu trùng và nhộng cần được giữ trong nhiệt độ ổn định để đảm bảo cho sự phát triển của chúng. Do đó chúng thường hoán đổi vị trí giữa các khoang trong tổ kiến.
Một con kiến thự trưởng thành thường sử dụng một vài ngày đầu để chăm sóc kiến chúa và con non. Sau đó chúng sẽ chuyển sang làm công việc đào hang hay những công việc khác trong tổ kiến, tiếp đó là đi kiếm ăn và bảo vệ tổ kiến. Sự thay đổi chức năng đôi khi diễn ra một cạc đột ngột và được định nghĩa là đằng cắp kiến thời vụ. Giả thuyết cho sự thay đổi này diễn ra là do tỉ lệ kiến bị chết trong khi đi kiếm ăn tăng cao. Ở một số loài kiến, đẳng cấp kiến được phân theo kích cớ. Kiến thợ được phát triển theo những kích cỡ khác nhau: cỡ nhỏ, cỡ vừa, cỡ lớn. Những con kiến lớn phát triển không đồng đều với cái đầu lớn hơn, mang đôi hàm lớn. Cá thể này đôi khi gọi là kiến lính, vì đôi càng to khỏe khiến cho chúng bảo vệ tổ hiệu quả hơn mặc dù chũng vẫn là kiến thợ và nhiệm vụ của chúng cũng không có khác biệt lớn với các kiến thợ cỡ nhỏ hay vừa.
Hầu hết ở các loài kiến thường gặp được tổ chức theo cách kiến Chúa và kiến sinh sản mới có khả năng giao phối. Trái nược với sự hiểu biết của vài người, một tổ kiến có nhiều kiến Chúa. Kiến đực cùng với những con cái có khả năng sinh sản có cánh chúng không làm bất cứ công việc gì ngòai ăn và giao phối. Đến thời điểm thích hợp, các con đực cùng với kiến cái không phải kiến Chúa (có khả năng sinh sản) bay ra khỏ tổ. Việc giao phối được thực hiện trong khi bay và con đực chết sau đó không lâu. Những con cái khi đáp xuống đất sẽ tìm một nơi thích hợp để thiết lập một tổ kiến mới. Lứa kiến thợ đầu tiên thường yếu và có kích thước nhỏ hơn các lứa sau và chúng bắt đầu ngay công việc mở rộng tổ, tìm kiếm thức ăn và chăm sóc trứng ...Ở một số lòai kiến có nhiều kiến Chúa, tổ kiến mới có thể được hình thành bằng cách 1 con kiến Chúa tách khỏi tổ cũ cùng với một số lớn kiến thợ để tìm vị trí mới thành lập tổ. Tập đoàn kiến có thể tồn tại trong thời gian dài, kiến Chúa có thể sống trên 30 năm, trong khi kiến thợ sống từ 1-3 năm, con đực chỉ sống 1 vài tuần. 
Xem ngay…

Đặc điểm nhận biết về mối cánh

Mối cánh được sinh ra khi tổ mối đạt 3-4 tuổi. Mối cánh thường xuất hiện hàng năm vào khoảng tháng 4 đến tháng 8, vào những lúc thời tiết nóng ẩm oi bức, những lúc trời mưa hoặc chuẩn bị mưa mối cánh thường bay ra khỏi tổ, giao hoan phân đàn và thành lập tổ mới. Số lượng cá thể mối bay ra nhiều hay ít tùy thuộc qui mô tổ lớn hay nhỏ. Những tổ mối nhỏ số lượng ít, mối cánh bay ra thường nhỏ giọt thành nhiều đợt. Đối với tổ lớn, mối bay ra đồng loạt với mật độ dày đặc, đôi khi như phun trấu.
Dac diem nhan biet ve moi canh
Mối cánh

Đặc điểm nhận biết về mối cánh

Mối cánh khá giống với các loài kiến cánh hay các loài côn trùng khác, dựa vào một số đặc điểm sau đây ta có thể dễ dàng nhận biết chúng:

+ Mối cánh thường xuất hiện những ngày có nhiệt độ cao, thời tiết oi bức, khó chịu. Chúng cũng thường xuất hiện trước và sau những cơn giông. Đây là điều kiện thuận lợi để mối tách đàn, thành lập tổ mới

+ Mối cánhcó màu nâu sẫm, chiều dài thân khoảng 7mm, cánh phủ dài kín toàn bộ thân, nếu tính cả chiều dài cánh thì chúng dài khoảng 11mm.

+ Mối thuộc họ côn trùng, đặc tính của côn trùng là ưa ánh sáng, đó chính là lí do chúng thường bay quanh những chiếc bóng đèn và bám trên những bức tường gần nguồn sáng.

Mối cánh sau khi bay ra khỏi tổ, khoảng 15 phút sau chúng sẽ rụng cánh, cặp đôi với nhau và tìm những vị trí thuận lợi đảm bảo đủ nhiệt độ, độ ẩm để hình thành tổ mới. 
Dịch vụ Diệt mối tận gốc chuyên nghiệp, hiệu quả, bảo hành dài hạn. Mọi chi tiết vui lòng liên hệ số điện thoại: 0986 440 222

Xem ngay…

Món ăn khoái khẩu của mối

Món ăn khoái khẩu của mối chủ yếu là thực vật (gỗ…) hoặc các vật liệu có gốc xenlulo như: giấy, vải, len dạ. Khi khan hiếm thức năng mối ăn cả xác động vật thậm chí ăn cả mối non.
Tuy nhiên trong quá trình kiếm thức ăn mối phá hoại nhiều loại vật liệu khác nhau như nhựa, cao su, kim loại mỏng, vữa xi măng mác thấp và những thứ khác.
Món ăn khoái khẩu của mối
Món ăn khoái khẩu của mối
Thực tế chúng chỉ tiêu hóa được xenlulo sản phẩm của gỗ như giấy là thức ăn chúng ưa thích bởi vì giấy gần như hoàn toàn là xelulo.
Khi đi kiếm ăn mối đi theo các đường mui do mối xây dựng đảm bảo an toàn cho mối. Đường mui thường ẩm, nếu khô hoặc bị bong ra có nghĩa là mối đã bỏ đi nơi khác kiếm ăn. Việc nuôi dưỡng đàn mối chủ yếu do mối thợ đảm nhận. Thoạt tiên thức ăn qua miệng vào ruột, trong ruột mối có vi khuẩn sản xuất ra enzyme tiêu hóa được xenlulo. Mặc dù mối là côn trùng thân mềm nhưng răng của chúng cứng hình răng cưa như mũi giáo có thể cắn đứt những mẫu gỗ rất nhỏ. Những loại mối này không ăn cây sống trừ mối Formosan.
Thức ăn được tiêu hóa trong cơ thể mối thợ một phần được ứa ra đằng mồm hoặc bài tiết ra từ cuối đường tiêu hóa để mớm cho mối vua, mối chúa, mối lính, mối non mà chúng không thể tự lấy thức ăn được, chất thải dạng viên được tống ra ngoài, dùng để xây tổ.
Cách thức mớm thức ăn cũng gây ra nhiễm độc cho cả đàn mối khi thức ăn bị nhiễm thuốc diệt mối lây truyền.
Xem ngay…

Đặc điểm cấu trúc các loại tổ mối

Phần lớn các loài mối sống ở dưới đất nhưng cũng có loài sống trong gỗ. Tổ mối là đại bản doanh sinh hoạt tập trung của đàn mối, tùy theo loài mối và điều kiện ngoại cảnh có sự thay đổi. Các loài mối khác nhau thì đặc điểm cấu trúc các loại tổ mối cũng khác nhau.
Đặc điểm cấu trúc các loại tổ mối

 Cấu trúc tổ mối sống trong gỗ

Thường làm tổ trong gỗ khô như giống Cryptotermes hoàn toàn không có liên hệ với đất và nước. Tổ này thường không lớn, các cấu tạo đơn giản có những lỗ nhỏ thong từ hang này sang hang khác và thông ra bên ngoài.

Cấu trúc tổ mối sống trong đất

Tổ này của các loài mối dựa vào đất làm tổ thường ở gần các rễ cây, gỗ chon trong đất, tổ này có thể chìm trong đất, hoặc nửa nổi nửa chìm trong đất hoặc nổi trên mặt đất như giống Odontotermes, Macrotermes…ta thường thấy ở trong vườn, rừng hoặc đê đập…

Cấu trúc tổ mối sống trong gỗ và đất 

Thường ở trong gỗ khô trong đất, có đường giao thông nối liền đất và nước như tổ của giống mối nhà Coptotermes.
- Tổ mối có nhiệt độ và độ ẩm rất ổn định mặc dù nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài thay đổi, nghĩa là cân bằng sinh thái rất tốt, đảm bảo đàn mối đặc biệt là mối chúa sống lâu đến vài chục năm để đẻ ra hàng triệu trứng.
- Kết quả thí nghiệm nhiệt độ môi trường từ 20 C đến 27 C (dao động 7 C) nhiệt độ trong tổ mối chỉ biến động từ 24,8 C đến 25,4 C (dao động 0,6 C)
- Độ ẩm môi trường từ 84 đến 95% (dao động 11%) trong khi độ ẩm của tổ mối chỉ biến động từ 85,5% đến 86,5% (dao động 1%)
Dựa vào Đặc điểm cấu trúc các loại tổ mối, phân loại mối để từ đó áp dụng biện pháp diệt mối tận gốc hiệu quả.

Dịch vụ diệt mối, diệt côn trùng cho các công trình, đảm bảo hiệu quả, uy tín. Liên hệ Diệt mối 24h -0986 440 222
Xem ngay…

Muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết như thế nào?

Sau khi hút máu người bệnh sốt xuất huyết, thời kỳ ủ bệnh ở trong muỗi từ 10-12 ngày. Đây là khoảng thời gian cần thiết để vi rút nhân lên trong tuyến nước bọt của muỗi và truyền bệnh cho người khác qua vết đốt. Vì thế các chuyên gia khuyến cáo bệnh nhân  SXH cũng cần phải ngủ màn để hạn chế nguy cơ truyền bệnh cho người khác.

Các chuyên gia y tế cho biết, vi rút gây SXH có 2 khả năng lây truyền tiếp. Một là vi rút ra tuyến nước bọt của muỗi và truyền cho người khác khi đốt. Trong trường hợp này xảy ra nguy cơ muỗi đốt người bị SXH, sau 10 – 12 ngày vi rút nhân lên trong tuyến nước bọt của muỗi và gây bệnh cho người khác khi đốt.

Muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết như thế nào?

Muỗi lành đốt người bệnh SXH cũng sẽ mang vi rút này. Vi rút nhân lên ở tuyến nước bọt của muỗi và gây bệnh cho người khác khi đốt.
Khả năng truyền vi rút sang người lành được thực hiện khi muỗi hút máu bệnh nhân trong thời kỳ nhiễm vi rút huyết. Nhiễm vi rút huyết có thể có 6 -18 giờ trước khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh. Như vậy bệnh nhân là nguồn lây ngay trước thời kỳ sốt và cho đến khi hết sốt, trung bình là 6 -7 ngày.
Đường lây truyền thứ hai là muỗi truyền vi rút sang trứng muỗi khi đẻ. Sau khi muỗi đẻ trứng nở thành loăng quăng lột xác thành muỗi thế hệ con, lúc này, muỗi đi đốt người sẽ truyền vi rút SXH cho người khác. Muỗi cái Ae.aegypti trưởng thành tiến hành hút máu lần đầu vào khoảng 48 giờ sau khi nở, trong một chu kỳ sinh thực, muỗi có thể hút máu nhiều lần.
Mặt khác muỗi Aedes còn có thể truyền vi rút trực tiếp từ người này sang người khác bằng sự thay đổi vật chủ khi bữa ăn máu bị gián đoạn. Chính sự hút máu nhiều lần của muỗi có thể giải thích tính bùng nổ tự nhiên của các vụ dịch với việc tìm thấy ít các số lượng muỗi cái trong ổ dịch.
Theo PGS.TS Trần Đắc Phu, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, nguồn bệnh SXHD là người mang vi rút dengue, đặc biệt là những người mắc bệnh ở thể nhẹ hoặc người nhiễm vi rút mà không phát bệnh đóng một vai trò quan trọng trong việc lây lan dịch bệnh, bởi vì những người này vẫn đi lại được, họ có thể di chuyển và mang vi rút từ vùng này sang vùng khác.
Vì thế, việc phòng bệnh không chỉ thực hiện với người chưa bị SXH bằng cách ngủ màn, diệt muỗi, ngăn cho muỗi đốt, mà người bị SXH điều trị tại nhà cũng cần ngủ màn, mặc quần áo dài tay… để tránh muỗi đốt làm lây truyền bệnh cho người khác.

                                                                                                Theo Dantri.com.vn
Xem ngay…

Ruồi vàng đục trái - Đặc điểm sinh học và sinh thái

Ruồi vàng đục trái là loài côn trùng gây hại nguy hiểm đối với nhiều loại cây ăn quả như mít, xoài, mận, ổi, măng cụt… Ruồi chích vào quả đẻ trứng, trứng nở thành dòi, dòi đục sâu vào quả làm quả thối rụng hàng loạt.
Ruồi vàng đục trái - Đặc điểm sinh học và sinh thái

Đặc điểm sinh học và sinh thái của loài ruồi vàng: 

Vòng đời của ruồi vàng: 22-28 ngày và trải qua 4 giai đoạn: Trứng - Ấu trùng (Dòi) - Nhộng và Ruồi trưởng thành:
Ruồi vàng đục trái
Ruồi vàng có vạch vàng ở ngang lưng
   - Trứng: 2-3 ngày. Trứng ruồi có hình dạng quả dưa chuột, dài khoảng 1mm, lúc mới đẻ có màu trắng sữa, khi sắp nở có màu vàng nhạt. Khi giòi nở vỏ trứng tách ra theo một đường dọc.
   - Ấu trùng (Dòi) : 8-10 ngày. Ấu trùng non mới nở dài khoảng 1,5mm, miệng có một móc cứng đen, đẫy sức dài khoảng 6-8 mm, màu vàng nhạt. Khi dòi đẫy sức chui ra ngoài hóa nhộng.
Ấu trùng của ruồi vàng
Dòi (ấu trùng) của ruồi vàng
   - Nhộng: 7-12 ngày. Vỏ nhộng (kén giả) hình trứng dài, lúc đầu có màu vàng nâu, lúc ruồi sắp vũ hóa chuyển sang màu nâu đỏ. 
  - Ruồi trưởng thành đẻ trứng sau 5-7 ngày và có thể sống hàng tháng. Một con ruồi vàng cái có thể đẻ 150-200 trứng. Ruồi trưởng thành hoạt động ban ngày, thường là sáng sớm hoặc chiều mát..

Cách xử lý diệt ruồi vàng
Có nhiều cách diệt ruồi vàng, một trong những cách là bạn có thể sử dụng thuốc diệt ruồi Proly 2.5CSLiều lượng và cách thức sử dụng xem tại hướng dẫn của nhà sản xuất.

Dịch vụ Diệt côn trùng chuyên nghiệp, hiệu quả, bảo hành dài hạn. Mọi chi tiết vui lòng liên hệ số điện thoại: 0986 440 222


Xem ngay…
Sau Home ->